Phát triển và ứng dụng phần mềm tự do và nguồn mở là cơ hội cho các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Chia sẻ và đóng góp cho cộng đồng nguồn mở là công việc của chúng ta, trong đó có tôi và bạn!

Showing posts with label eGOV-OSS. Show all posts
Showing posts with label eGOV-OSS. Show all posts

Tuesday, July 17, 2007

Microsoft có thực sự muốn có tính tương hợp?

Giám đốc điều hành của Red Hat nói đã nói chuyện với Microsoft về vấn đề bằng sáng chế.

Red Hat CEO says he talked patents with Microsoft

Theo: http://www.lamlaw.com/tiki-read_article.php?articleId=287

Reuters, By: Lewis A. Mettler, Ngày 28/06/2007

Nói về bằng sáng chế không phải là một vấn đề. Nhưng, Microsoft hoàn toàn không nói về bằng sáng chế. Họ đang từ chối xác định IP mà họ muốn hăm doạ mọi người. Đối với Red Hat nó có khả năng là nói về bằng sáng chế. Đối với Microsoft thì nó là một sự huyên náo về sự bảo vệ. Một nỗ lực có tính lừa lọc để kiếm tiền và viện cớ Red Hat vi phạm rất nhiều giấy phép mà theo đó nó được phép phát tán Linux.

Talking patents is not the problem. But, Microsoft is not talking about patents at all. They are refusing to identify the IP they want to threaten everyone with. For Red Hat it may be talking patents. For Microsoft it is a protection racket. A fraudulent effort to get money and to cause Red Hat to violate the very license under which it is permitted to distribute Linux.

Đó là những gì Microsoft muốn hơn mọi thứ. Quá nhiều thứ họ đã muốn chi cho Novell hàng trăm triệu và không nói bao nhiêu cho Xandros và Linspire.

Heck, họ bắt đầu cả việc hợp tác với tính tương hợp. Và bạn biết điều đó khó khăn làm sao đối với Microsoft. Không phải là về kỹ thuật. Điều này dễ. Từ quan điểm marketing. Microsoft ghét cái ý tưởng mọi người đang tồn tại trên thị trường có thể tương hợp được với nhau nhiều hơn một chút. Và đó là sự thật mặc dù một vài khách hàng chủ chốt đã nói với Microsoft một cách rõ ràng để thay đổi quan điểm của họ hoặc họ sẽ ra đi.

That is what Microsoft wants more than anything. So much so that they were willing to pay Novell hundreds of millions and no telling how much to Xandros and Linspire.

Heck, they even began to cooperate with interoperability. And you know how difficult that is for Microsoft. Not technically. That is easy. From a marketing standpoint. Microsoft hates the idea of anyone existing in the marketplace much less being somewhat interoperable. And that is true even though some key customers have obviously told Microsoft to change their attitude or ship out.
Nếu bạn chưa nói với Microsoft điều đó, bạn là một cây hoa păng xê và một whimp. Đó là tôi nói thế. Păng xê và whimp.

Vấn đề với giới công nghiệp thực ra không phải là Microsoft. Chính là các khách hàng đó, ý kiến của họ còn không là gì đối với bản thân họ.

Có thể tôi không đưa ra được một thứ sáng sủa về chủ đề này nhưng sự bàn thảo giữa Red Hat và Microsoft sẽ phải diễn ra rất chán.

Mcrosoft: Chúng tôi muốn anh ký thoả thuận về bằng sáng chế này.

Red Hat: Anh đang nói về các bằng sáng chế nào?

Mcrosoft: Chúng tôi muốn anh ký thoả thuận về bằng sáng chế này.

Red Hat: Anh đang nói về các bằng sáng chế nào?

Mcrosoft: Chúng tôi muốn anh ký thoả thuận về bằng sáng chế này.

Red Hat: Thôi được, chúng tôi có cuộc hẹn ăn trưa với những người của tổ chức phần mềm tự do FSF (Free Softwar Foundation). Có lẽ chúng ta sẽ tiết tục việc này sau?
If you have not told Microsoft that, you are a pansy and a whimp. There I said. Pansy and a whimp.
The problem with the industry is not really Microsoft. It is those customers whose opinions do not even matter to themselves.

Maybe I should not put a light touch on this subject but the discussion between Red Hat and Microsoft must have been pretty boring.

Microsoft: We want you to sign this patent deal.

Red Hat: Which patents are you talking about?

Microsoft: We want you to sign this patent deal.

Red Hat: Which patents are you talking about?

Microsoft: We want you to sign this patent deal.

Red Hat: Well, we have a lunch appointment with the FSF people. Perhaps we could continue this later?
Một lần nữa gạt sang một bên, nhưng là một lần thú vị.

Bạn có thể nói khi nào một luật sư cố kéo nhanh một thứ gì đó. Họ khoan thai tránh bàn luận các vấn đề với các bên một cách rõ ràng. Giống như khi các luật sư của SCO khẳng định thoả thuận với Microsoft và Sun, Novell đã phớt lờ. Và khi Microsoft và Novell khẳng định thoả thuận của họ, FSF đã rời bỏ khỏi cuộc thảo luận. Họ cũng tránh thảo luận các yếu tố rõ ràng. Giống như những vi phạm bản quyền bạn đang nói? Và anh đang nói về các bằng sáng chế nào vậy?

Another aside, but an interesting one.

You can tell when a lawyer is trying to pull a fast one. They deliberately avoid discussing issues with the obvious parties. Like when SCO lawyers were firming up the deal with Microsoft and SUN, Novell was ignored. And when Microsoft and Novell were firming up their deal, the FSF was left out of the discussions. They also avoid discussing obvious facts. Like which copyright violations are you talking about? And which patents are you talking about?

Những om sòm về bảo vệ trên đường phố dựa trên những khiếu nại mơ hồ về sự thiệt hại mà nó có thể dẫn tới chết người nếu họ không trả tiền. SCO và Microsoft không hơn gì những bọn du côn ngoài đường. Quả thực họ còn tồi tệ hơn vì họ lừa dối và khiếu nại các hành vi của họ dựa trên các khiếu nại có căn cứ của IP. Đằng này, họ biết các khiếu nại của chính họ là không có căn cứ.

Vì thế nó chỉ là sự gian lận. Heck, Bọn du côn ngoài đường có thể muốn làm cho cái cửa sổ phía trước bị hư hại nghiêm trọng nếu người bảo vệ cửa hàng không chi tiền. Sau đó tất cả bọn trẻ hư đốn trên đường phố đều thực sự không thể kiểm soát nổi, có đúng vậy không? Microsoft và SCO chỉ lừa dối về điều đó.

Microsoft và SCO đã biến một nền công nghiệp tốt thành một thứ mà mọi người đều muốn tránh. Và tôi đồ rằng nó cũng là mục đích của họ.

The street protection racket is based upon vague claims of harm that may come to the victim if they do not pay up. SCO and Microsoft are no more than street thugs. Actually they are worse because they lie and claim their actions are based upon valid IP claims. But, they know their own claims are invalid. So it is just fraud. Heck, street thugs would have made certain the front window suffered serious damage if the shop keeper did not pay. After all the nasty kids on the street are really uncontrollable aren't they? Microsoft and SCO just lie about it.

Microsoft and SCO have turned a good industry into one anyone would want to avoid. And I guess that is their objective too.

PS: Bạn có thể xem thêm bài “Microsoft: Chúng tôi sẽ chỉ tương hợp nếu các anh ký một thoả thuận về bằng sáng chế. Red Hat: Không” (MS: We'll only interoperate if you sign a patent deal. Red Hat: No) để biết Microsoft có thực sự muốn có tính tương hợp (interoperability) hay không?. Bạn sẽ thấy rõ Microsoft vì ai và vì cái gì. Bài đuợc đưa lên Internet vào ngày 04/07/2007 tại địa chỉ:

http://www.groklaw.net/articlebasic.php?story=2007070412502112

Dịch tài liệu: Lê Trung Nghĩa

Công ty Cổ phần phần mềm – Thương mại điện tử Nhất Vinh

ltnghia@yahoo.com

Tính tương hợp - interoperability?

Tính tương hợp - Interoperability là gì?

Có nhiều định nghĩa khác nhau về tính tương hợp (Interoperability), theo Viện kỹ sư điện, điện tử IEEE (Institute of Electrical and Electronics Engineers) thì tính tương hợp là khả năng 2 hoặc nhiều hệ thống hoặc thành phần trao đổi các thông tin và sử dụng các thông tin được trao đổi đó.

Đối với phần mềm, khái niệm tính tương hợp được sử dụng để mô tả khả năng các chương trình khác nhau trao đổi dữ liệu thông qua một tập các thủ tục nghiệp vụ chung, và để đọc và viết cùng các định dạng tệp và sử dụng cùng các giao thức. (Khả năng thực thi cùng mã nhị phân trên các nền tảng vi xử lý khác nhau được giả thiết là 'không' phải là một phần của định nghĩa về tính tương hợp này!). Việc thiếu tính tương hợp ngụ ý rằng sản phẩm và các sản phẩm được mô tả không được thiết kế với sự tiêu chuẩn hoá trong đầu. Thực vậy, tính tương hợp không thực hiện được để đảm bảo trong các phần không dựa trên tiêu chuẩn của thế giới máy tính và xử lý dữ liệu điện tử – EDP (Electronic Data Processing).

Theo ISO/IEC 2382-01 thì tính tương hợp được xác định là khả năng giao tiếp, thực thi các chương trình, hoặc truyền các dữ liệu giữa hàng loạt các bộ phận chức năng theo cách mà nó không đòi hỏi sự hiểu biết (hoặc biết rất ít) của người sử dụng đối với các chức năng duy nhất của các bộ phận này.

Định nghĩa này tập trung vào mặt kỹ thuật của tính tương hợp, trong khi nó cũng chỉ ra rằng tính tương hợp thường là một vấn đề về tổ chức. Nói một cách khác, tính tương hợp thường có một tác động mạnh tới tổ chức liên quan, bao gồm cả những vấn đề về quyền sở hữu (liệu mọi người có muốn chia sẻ các dữ liệu của họ hay không?), mọi nhân viên (liệu mọi người có được chuẩn bị để vượt qua việc đào tạo hay không?) và tính có thể sử dụng được. Trong ngữ cảnh này, một định nghĩa có thể là gắn với khái niệm “tính tương hợp của qui trình nghiệp vụ”.

Để dễ hiểu, trong bài viết của Bob Muglia với đầu đề: “Microsoft đang thay đổi tiếp cận của họ về tính tương hợp” (Microsoft changing its approach to interoperability), được đưa lên Internet ngày 23/05/2007 ở địa chỉ: http://blogs.zdnet.com/BTL/?p=5132 ta có thể có những hình ảnh sau:

  1. Tính tương hợp nội bộ (intra-operability)

muglaiintra.jpg

  1. Tính tương hợp (interoperability)

mugliainter.jpg

Khi xây dựng một hệ thống thông tin, điều chúng ta cần là có tính tương hợp (interoperability), chứ không phải chỉ cần có tính tương hợp nội bộ (intra-operability).

Trần Lê

Wednesday, June 13, 2007

Tổng thống tương lai của Pháp nói về PMNM và chuẩn mở


Phần mềm nguồn mở (PMNM), các chuẩn mở với các tổng thống tương lai của Pháp



Bà Royal Ségolène, ứng cử viên vòng 2 cho chức tổng thống Pháp của đảng Xã hội: Việc sử dụng PMNM và các chuẩn mở là sống còn đối với công nghệ thông tin (CNTT) công. CNTT công nói chung phải là tự do. Điều này có nghĩa là các ứng dụng phải sử dụng các định dạng thực sự mở, không có hạn chế đối với người sử dụng và nhà phát triển. Điều cơ bản này là để đảm bảo giữ gìn cho các dữ liệu của các cơ quan hành chính công, các cộng đồng và các dịch vụ và để giữ cho sự cạnh tranh tự do trên thị trường phần mềm. (http://ec.europa.eu/idabc/en/document/6834/469, 11/04/2007).



Ông Sarkozy, ứng cử viên vòng 2 cho chức tổng thống Pháp của Đảng UPM: PMNM và phần mềm thương mại bổ sung cho nhau. PMNM ngày càng có thể so sánh được với phần mềm thương mại. Cơ bản là phải đảm bảo sự cạnh tranh tự do trong lĩnh vực này, đặc biệt trong CNTT công. Tuy nhiên nhà nước không nên ép buộc một mô hình nào. (http://ec.europa.eu/idabc/en/document/6906/469, 23/04/2007).



Ông Bayrou, ứng cử viên về thứ 3 của vòng 1 cho chức tổng thống Pháp của đảng Dân chủ: khuyến khích các nhà chức trách sử dụng PMNM. Các cơ quan hành chính nhà nước và địa phương phải nắm lấy các tiêu chuẩn mở và PMNM. PMNM và các tiêu chuẩn mở cả 2 điều “mang lại sự độc lập ở mức độ cao”.(http://ec.europa.eu/idabc/en/document/6860/469, 16/04/2007).

Dịch tài liệu: Lê Trung Nghĩa

Công ty Cổ phần phần mềm – Thương mại điện tử Nhất Vinh

ltnghia@yahoo.com

28/04/2007

Châu Âu và Mỹ đã chi bao nhiêu tiền cho PMNM

Châu Âu và Mỹ đã chi bao nhiêu tiền cho phần mềm nguồn mở

Châu Âu đầu tư vào phần mềm tự do và nguồn mở tới hôm nay là 22 tỷ euro (tương đương với 27.5 tỷ USD hay 440.000 tỷ VNĐ), chiếm 20,5% tổng tiền đầu tư vào phần mềm của cả khu vực còn nước Mỹ là 36 tỷ euro (tương đương với 45 tỷ USD hay 720.000 tỷ VNĐ) chiếm 20% chi phí phần mềm. Đây là đánh giá từ một nghiên cứu của trường đại học Maastricht và được công bố ngày 26/02/2007 vừa qua tại Hội nghị của Open Ireland – một tổ chức phi lợi nhuận về nâng cao nhận thức và hiểu biết về PMNM – tại thủ đô Dublin.Thành viên của tổ chức này gồm những tên tuổi nổi tiếng như Deloitte, Unisys, IBM, HP, Intel, AMD, Sun và Fujitsu. Dự kiến tới năm 2010 sẽ có tới 4% GDP của toàn châu Âu liên quan tới PMNM.

Chúng ta đã chi bao nhiêu tiền cho việc ứng dụng và phát triển PMNM tại Việt Nam?

Theo http://www.siliconrepublic.com/news/news.nv?storyid=single7850

Tiểu Linh

PS: Bài đăng trên tạp chí Tin học và Đời sống số tháng 03/2007, trang 17

Kinh nghiệm Quốc tế về phần mềm nguồn mở


Kinh nghiệm quốc tế về phần mềm nguồn mở (PMNM)

Để có thể đưa ra được tuyên bố về tính mở và tính trung lập về phần mềm, ngày 07/12/2006, Liên minh PMNM Malaysia đã tổ chức tại Văn phòng của báo New Straits Times một cuộc họp bàn tròn với thành phần tham dự là những nhà phát triển và cung cấp giải pháp công nghệ thông tin và truyền thông, các tổ chức xã hội, các nhóm và cả những người sử dụng cá nhân. Có hơn 40 công ty, tổ chức trong lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông đã ký vào bản tuyên bố để thể hiện sự tán thành của mình, trong đó có cả các công ty có tiếng tăm như: Hiệp hội các nhà sản xuất Malaysia, IBM Malaysia, Novell Malaysia, Red Hat (Văn phòng đại diện tại Malaysia, Sun Microsystems Malaysia, Mạng PMNM quốc tế của UNDP-APDIP (các nước trong khối ASEAN+3, Nam Á và các đảo quốc ở Thái Bình Dương...

Cùng một cách tiếp cận tương tự, để có được sản phẩm tương thích với phần cứng của các nhà cung cấp hàng đầu trên thế giới, việc xây dựng hệ điều hành nguồn mở Asianux được thực hiện ở 3 nước là Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc với sự tham gia của các công ty Red Flag, Miracle và Haansoft lần lượt từ các nước kể trên và Asianux có sự hỗ trợ kỹ thuật của hàng loạt các công ty có tên tuổi trên thế giới như Adaptec, Dell, EMC, Emulex, Hitachi, HP, IBM, Intel, Oracle, Samsung, SAP, Stratus, Sybase, Symantec, Toshiba (xem http://www.asianux.com/ihvisv.do). Vì vậy, khó có thể xảy ra việc hệ điều hành Asianux không tương thích với các phần cứng máy tính và các thiết bị ngoại vi trong tương lai, điều mà các sản phẩm hệ điều hành Linux bản địa hóa của chúng ta chưa giải quyết được.

Rõ ràng, việc tổ chức để có được sự ủng hộ từ nhiều nhà cung cấp, nhiều tổ chức liên quan trong lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông đối với những sản phẩm đặc chủng như hệ điều hành hay những quyết sách ảnh hưởng tới cả một đường lối phát triển của quốc gia rất cần sự đồng tâm của nhiều thành phần trong xã hội và đối với Việt Nam thì vai trò của Chính phủ là vô cùng quan trọng bên cạnh các đoàn thể, cộng đồng phát triển, cộng đồng người sử dụng và cộng đồng doanh nghiệp.

Tiểu Linh

PS: Bài đăng trên tạp chí Tin học và Đời sống số tháng 03/2007, trang 17

Hội nghị châu Á lần thứ 8 về phần mềm nguồn mở

333 magnify

Hội nghị châu Á lần thứ 8 về phần mềm nguồn mở (PMNM)

Hội nghị châu Á lần thứ 8 về PMNM vừa diễn ra trong các ngày 13-15/02/2007 tại đảo Bali, Indonesia.

Khác với những lần Hội nghị trước, khi chương trình nghị sự tập trung vào các vấn đề nặng tính lý thuyết và nâng cao nhận thức, nội dung thảo luận của Hội nghị lần này xoay quanh 3 chủ đề chính mang nặng tính thực tiền hơn là: Sử dụng và hỗ trợ PMNM; Ảnh hưởng về kinh tế của PMNM và Phát triển nguồn nhân lực và công nghệ cho PMNM.

Bên lề Hội nghị, một loạt các hoạt động khác liên quan tới PMNM đã được tổ chức như: Hội thi lập trình PMNM (Code Fest) với sự tham gia của các lập trình viên từ nhiều quốc gia châu Á tới tham dự; Hội thảo về bản địa hóa các PMNM và Hội chợ triển lãm về PMNM với sự tham gia của một số công ty có đóng góp trong vai trò hỗ trợ kỹ thuật cho việc ứng dụng và pháp triển PMNM cả nội địa, quốc tế lẫn đa quốc gia.

Bảng so sánh năng lực về PMNM một số nền kinh tế châu Á (Tháng 02/2007)


Quốc gia

PMNM trong đường lối CNTT-TT

Nguồn nhân lực phát triển PMNM

Trung tâm chuyên về PMNM

Bản địa hóa PMNM

Đào tạo về PMNM

Chuyển đổi sang PMNM

Hướng dẫn mua bán CP có PMNM

Hỗ trợ của doanh nghiệp cho PMNM

Tồn tại cộng đồng PMNM

1

Brunei

K

MP

K

K

C

MP

K

K

C

2

Campuchia

C

C

C

C

C

C

C

C

C

3

Đài Loan

C

C

C

C

MP

MP

MP

MP*

C

4

Hồng Kông

K

K

C

C

K

C

K

C

C

5

Nepal

C

MP

K

C

MP

MP

K

MP

C

6

Pakistan

MP

C

C

C

C

C

MP

C

C

7

Trung Quốc

C

C

C

C*

MP

MP

K*

C

C

8

Philippines

C

C

C

C

C

MP**

MP**

C

K

9

Singapore

MP

K

K

K

MP

K

K

MP

MP

10

Thái Lan

C

C

C

C

C

C

C

C

C

11

Việt Nam

C

K

K

C

K

C

C

C

C

Hội nghị đưa ra lần đầu tiên bảng so sánh năng lực PMNM của 11 nền kinh tế châu Á, trong đó có Việt Nam. Thứ tự trong bảng được sắp xếp theo trình tự tên các nền kinh tế theo vần ABC.

Ghi chú:

C: Có; C*: Ngôn ngữ của người thiểu số

K: Không; K*: Trước hết là các chuẩn mở

MP: Một phần; MP*: Các doanh nghiệp vừa và nhỏ; MP**: Một số cơ quan nhà nước được lựa chọn;

Bảng tổng hợp cho thấy việc sử dụng PMNM ở các quốc gia khác nhau là khác nhau. Trong số các quốc gia được khảo sát, Thái Lan, Campuchia, Đài Loan, Trung Quốc, Pakistan và Philippines có năng lực PMNM được xếp hạng tương đối cao nhờ vào sự đồng đều ở tất cả các tiêu chí đánh giá.

Mặc dù các kết quả đánh giá có thể chưa thật sát thực tế nếu so sánh các mức độ thực hiện khác nhau ở cùng một tiêu chí, đánh giá phần nào đã đưa ra được một cái nhìn tổng thể, sơ lược và nhanh về năng lực PMNM của một số quốc gia châu Á.

Việc phát triển và ứng dụng PMNM tại Việt Nam trong những năm vừa qua, nhất là việc ứng dụng PMNM tại các tỉnh, bộ, ngành trong các dự án thuộc các đề án 47 của Đảng và 112 của Chính phủ đã giúp Việt Nam có tên trong bảng so sánh nói trên. Tuy nhiên, để có thể phát triển PMNM thực sự bền vững, Việt Nam cần phải nỗ lực hơn rất nhiều, đặc biệt là trong vấn đề đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cho PMNM.

Hội nghị đã kết thúc tốt đẹp sau 3 ngày làm việc và đã đưa ra tuyên bố Bali với những nội dung khẳng định vai trò và ảnh hưởng của PMNM trong nền kinh tế của từng quốc gia cũng như trong toàn khu vực châu Á và xu thế phát triển của nó trong tương lai cùng những gợi ý một số nội dung hướng tới Hội nghị lần sau.

Tiểu Linh

PS: Bài đăng trên tạp chí Tin học và Đời sống số 03/2007, trang 16-17

Tuesday, June 12, 2007

Phần mềm nguồn mở (PMNM) với Đề án 112 Chính phủ về Tin học hóa


Phần mềm nguồn mở (PMNM) với Đề án 112 Chính phủ về Tin học hóa quản lý hành chính nhà nước

Bất cứ nhà lãnh đạo công nghệ thông tin (CIO) nào mà không có chiến lược về phần mềm nguồn mở trong năm 2003 thì sẽ phải trả giá đắt hơn nhiều cho công nghệ thông tin vào năm 2004“.

Tạp chí CIO, ngày 15 tháng 3 năm 2004

http://www.cio.com/archive/031503/opensource.html

A. Định hướng từ rất sớm:

Đường lối về ứng dụng và phát triển PMNM trong các dự án của Đề án 112 Chính phủ được thể hiện rõ trong tài liệu “Đề án 112 trong hành động” do nhà xuất bản chính trị Quốc gia xuất bản tháng 02/2003 (tròn một năm trước khi có Quyết định 235/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 02/03/2004 phê duyệt Dự án tổng thể “Ứng dụng và phát triển phần mềm nguồn mở ở Việt nam giai đoạn 2004-2008”), trong đó có những đoạn như: “... đơn vị mới bắt đầu xây dựng các hệ thông tin điện tử cần ưu tiên sử dụng các hệ điều hành mở thuộc dòng Linux như Red Hat, Suse, VA Linux, ManDrake..., hoặc thuộc dòng BSD như FreeBSD, NetBSD, OpenBSD...”, “... dùng MySQL hoặc PostgreSQL dưới hệ điều hành Linux sẽ có lợi thế của phần mềm mã nguồn mở, ngoài ra việc chuyển đổi dữ liệu của chúng với các hệ thống khác cũng là thuận tiện...”, “... với tính an toàn và kinh tế cao, các phần mềm mã nguồn mở và phần mềm tự do đang được sử dụng càng ngày càng nhiều trong các hệ thống thông tin điện tử, ,do vậy cần có quan điểm xây dựng về lĩnh vực này”, “... ưu tiên sử dụng phần mềm nguồn mở, bởi nó cho phép người phát triển phần mềm sửa đổi, cải tiến và nâng cấp để sử dụng mà không vi phạm luật bản quyền”.

B. Triển khai thực tế:

1. Với các dịch vụ nền tảng cơ bản:

Có 6/7 công ty tham gia triển khai các dịch vụ nền tảng cơ bản đã triển khai các giải pháp chạy trên hệ điều hành Linux, trong đó nhiều dịch vụ được cung cấp là các PMNM (Xem thêm Tin học Đời sống, số tháng 09/2006, trang 20-23, bài Xây dựng các ứng dụng, dịch vụ cho Chính phủ điện tử bằng các PMNM).

Có 46/64 tỉnh, thành phố và 18/51 bộ, ngành đã triển khai các dịch vụ nền tảng cơ bản theo Đề án 112 Chính phủ được thực hiện với các giải pháp chạy trên hệ điều hành Linux, trong đó nhiều dịch vụ được cung cấp là các PMNM.

2. Với phần mềm cổng điện tử và hệ thống quản trị nội dung đang triển khai thử nghiệm:

Có 8/12 công ty tương ứng với 8/12 tỉnh, bộ tham gia triển khai thử nghiệm cổng điện tử và hệ thống quản trị nội dung chọn giải pháp là các cổng điện tử mã nguồn mở chạy trên hệ điều hành Linux như uPortal, Liferay, Apache Jetspeed hay DotNetNuke.

3. Đối với các phần mềm dùng chung đã triển khai:

Có 34/64 tỉnh, thành phố, sở, huyện và 3/51 bộ, ngành đã triển khai phần mềm dùng chung về quản lý hồ sơ công việc chạy trên hệ điều hành nguồn mở Linux.

4. Về số lượng các máy chủ có cài đặt hệ điều hành Linux:

Tổng số máy chủ được cài đặt hệ điều hành Linux trong các dự án của Đề án 112 Chính phủ là 827/1500 chiếc. Đáng chú ý là hơn 95% số máy chủ tại Trung tâm của Ban Điều hành Đề án 112 Chính phủ được cài đặt hệ điều hành Linux và hàng loạt các PMNM phục vụ cho hoạt động của hệ thống thông tin Chính phủ.

5. Về đào tạo PMNM:

Đề án 112 CP đã xuất bản giáo trình về “Sử dụng, quản trị và lập trình UNIX/Linux” làm cơ sở cho việc đào tạo các cán bộ công chức trong Đề án về các nội dung liên quan tới PMNM.

Có 6500 cán bộ công chức được đào tạo sử dụng các ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ tin học hóa quản lý hành chính thì tất cả đều được đào tạo một khóa học cơ bản về phần mềm nguồn mở như hệ điều hành nguồn mở Linux, bộ phần mềm văn phòng Open Office.

Có 5000 người được đào tạo khóa học về quản trị mạng có sử dụng các phần mềm nguồn mở từ hệ điều hành Linux, hệ quản trị cơ sở dữ liệu như MySQL, PostgreSQL, hệ thống máy chủ thư điện tử như Send Mail, Postfix – Cyrus...

Việc đào tạo và tái đào tạo hệ thống Linux đặc biệt là cho các quản trị viên hệ thống là rất cần thiết và nên được thường xuyên tiến hành để nâng cao kỹ năng sử dụng và quản trị.

6. Một số thành quả:

Kể từ giữa năm 2004 tới nay, sau gần 3 năm triển khai, nhiều chuyên gia công nghệ thông tin của các công ty tham gia triển khai đã có những trưởng thành vượt bậc trong việc tự chủ về công nghệ và đưa ra những giải pháp tích hợp hệ thống dựa trên cơ sở ứng dụng các PMNM, điều mà trước kia không thể nào thực hiện được do không thể hiểu được tường tận những gì bên trong lõi các hệ thống phần mềm thương mại. Điều này sẽ giúp tạo ra những giải pháp tích hợp hệ thống mang nhãn hiệu Việt Nam chứ không phải chỉ ở mức độ tùy biến sử dụng các tính năng sẵn có của các phần mềm hệ thống thương mại như trước kia.

Bên cạnh lợi ích nói trên, việc tiết kiệm chi phí mua bản quyền các phần mềm hệ điều hành máy chủ, hệ quản trị cơ sở dữ liệu, phần mềm lõi cổng điện tử, hệ thống quản trị nội dung, máy chủ thư điện tử và các loại máy chủ dịch vụ khác là không nhỏ, có thể lên tới hàng chục triệu đô la Mỹ.

TT

Phần mềm thương mại

Phần mềm nguồn mở

Tên phần mềm

Giá (USD)

Tên phần mềm

Giá (USD)

1

Hệ điều hành máy chủ Windows Server 2003, Standard Edition SP 2

999

Hệ điều hành máy chủ Red Hat 9.0 hoặc Fedora core 2

0

2

Hệ quản trị cơ sở dữ liệu MS SQL Server 2005 Standard Edition

5999

Hệ quản trị cơ sở dữ liệu PostgreSQL 7.3 hoặc 8.0

0

3

Phần mềm lõi cổng điện tử Websphere Portal Enable V5.1 (đã bao gồm công cụ quản lý nội dung iCM)

28000

Các phần mềm lõi cổng điện tử: uPortal, Liferay, Apache Jetspeed Portal, ...; Các phần mềm quản trị nội dung: OpenCMS, Lenya, ...

0

4

Phần mềm lõi cổng điện tử MS SharePoint Portal Server 2003 License with 5 CALs

5600

Các phần mềm lõi cổng nêu trên

0

5

Phần mềm quản trị nội dung Content Management Server 2002 Standard Edition

6999

Các phần mềm quản trị nội dung nêu trên

0

6

Phần mềm sử dụng cho việc kết nối LDAP IBM Tivoli Access Manager for eBusiness value units LIC + SW Maint 12 MO (100 user)

1400

Phần mềm sử dụng cho việc kết nối LDAP nguồn mở CAS (Central Authentication Server)

0

Bảng 2: So sánh về chi phí bản quyền một số phần mềm thương mại và nguồn mở

Việc sử dụng các PMNM trong phạm vi Đề án 112 Chính phủ đương nhiên góp phần không nhỏ trong việc làm giảm tỷ lệ vi phạm bản quyền phần mềm trong các cơ quan nhà nước nói riêng, cho toàn Việt Nam nói chung.

Thành quả lớn nhất nằm ở chỗ các PMNM đã được triển khai đã góp phần không nhỏ trong việc xây dựng nên mạng của các dịch vụ cơ bản tại các trung tâm tích hợp dữ liệu các tỉnh, bộ, kết nối và làm việc được với nhau trong một hệ thống mạng IP duy nhất của Chính phủ, điều mà không dự án nào làm được từ trước tới nay.

C. Khó khăn và cách khắc phục:

1. Khó khăn thường gặp

Khó khăn thường gặp phải khi triển khai thực tế là người sử dụng thường đã quá quen thuộc với hệ thống các phần mềm của Microsoft không chỉ ở phía các máy trạm mà còn ở cả phía các máy chủ nên nhiều lúc, nhiều nơi người sử dụng và cả các quản trị viên gặp khó khăn trong việc chuyển giao công nghệ, sử dụng, quản trị hệ thống Linux. Một số nơi còn bị “Microsoft hóa” trở lại sau khi hệ thống Linux đã được triển khai. Việc thiếu hụt quản trị hệ thống mạng là rất lớn nói chung, đối với hệ thống mạng Linux nói riêng tại tất cả các đơn vị triển khai.

Khó khăn trong việc tích hợp hệ thống khi phải làm việc trong một hệ thống hỗn hợp sử dụng hệ điều hành cả Linux lẫn Microsoft.

Khó khăn trong việc tích hợp hệ thống như việc tích hợp các ứng dụng, dịch vụ dùng chung với thành phần dịch vụ hạ tầng (LDAP) hay các thành phần cơ bản khác trong hệ thống theo kiến trúc được lựa chọn, điều mà từ trước tới nay chưa từng được quan tâm tới trong tất cả các dự án về ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin của Việt Nam.

Khó khăn trong việc đáp ứng nhu cầu nâng cấp ở mức độ cao từ phía người sử dụng đối với các dịch vụ trong khi khả năng đáp ứng còn chưa theo kịp.

Khó khăn trong việc thiếu kinh phí để duy trì, nâng cấp hệ thống một cách kịp thời và định kỳ theo từng năm.

Khó khăn lớn nhất nằm trong việc nâng cao nhận thức cho toàn xã hội nói chung, nhất là việc nâng cao nhận thức cho nhiều nhà lãnh đạo hoạch định chính sách công nghệ thông tin quốc gia và các chủ dự án đầu tư các dự án về công nghệ thông tin của các bộ-ngành, tỉnh, ở cả cấp trung ương lẫn địa phương về những lợi ích của PMNM đối với sự phát triển của nền công nghệ thông tin quốc gia, coi việc ứng dụng và phát triển PMNM là một cuộc cách mạng dài lâu, một xu thế của hầu hết các chính phủ trên thế giới chứ không phải là một công việc mang tính nhất thời, lại càng không phải là một việc cần lảng tránh thay vì phải nỗ lực vượt qua những khó khăn trước mắt.

2. Biện pháp khắp phục:

Thiếu nhân lực là khó khăn mang tính sống còn trong ứng dụng và phát triển phần mềm nói chung, phần mềm nguồn mở nói riêng. Chính vì vậy, để giải quyết tốt được công việc này, bên cạnh việc tự chủ của bản thân các dự án trong Đề án 112 Chính phủ, mong muốn có được sự chia sẻ gánh nặng về đào tạo nhân lực từ toàn xã hội nói chung, từ các dự án khác nói riêng, đặc biệt là từ các tiểu dự án thành phần theo tinh thần của Quyết định 235/QĐ-TTg như tiểu dự án về xây dựng trung tâm nguồn lực PMNM của bộ Khoa học Công nghệ; tiểu dự án về ứng dụng và đào tạo PMNM trong các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp của Bộ Giáo dục và Đào tạo; tiểu dự án về đào tạo sử dụng PMNM cho cán bộ, công chức và viên chức nhà nước của Bộ Nội vụ; tiểu dự án về ứng dụng và đào tạo PMNM trong các trường dạy nghề của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ... để có thể đáp ứng được nhu cầu của xã hội về ứng dụng và phát triển PMNM, phù hợp với đường lối mà Thủ tướng Chính phủ đã vạch ra.

Bên cạnh đó cần có sự khuyến khích, hỗ trợ và tham gia tích cực của các bộ ngành quan trọng liên quan khác như bộ Tài chính, bộ Kế hoạch Đầu tư ... trong việc đầu tư kinh phí thỏa đáng và đúng thời điểm cho các dự án có liên quan tới PMNM, coi việc đầu tư từng đồng vốn cho ứng dụng và phát triển PMNM chính là đầu tư cho sự phát triển nền công nghệ thông tin nước nhà.

Thay vì mua bản quyền phần mềm thương mại, hãy đầu tư thích đáng cho việc nghiên cứu, phát triển các giải pháp tích hợp hệ thống, ứng dụng dựa trên PMNM và đào tạo về PMNM.

D. Lời kết:

Mặc dù còn có nhiều khó khăn trên con đường khẳng định mình trong việc tự chủ công nghệ cũng như góp phần giảm chi phí mua bản quyền các phần mềm thương mại, những điều mà Đề án 112 Chính phủ đã và đang làm trong việc đầu tư, mua sắm sản phẩm công nghệ thông tin là các PMNM hay trong việc ứng dụng và phát triển PMNM là phù hợp với tinh thần của các Quyết định số 235/QĐ-TTg và số 169/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chinh phủ.

Hy vọng trong những năm tới đây, cùng với việc đầu tư, mua sắm sản phầm công nghệ thông tin là các PMNM cũng như việc ứng dụng và phát triển PMNM của Đề án 112 Chính phủ và Đề án 47 của Đảng sẽ là những ví dụ tốt để các dự án lớn mang tầm cỡ Quốc gia khác tham khảo và hưởng ứng, không chỉ nhằm tạo ra một thế hệ các chuyên gia công nghệ thông tin trong nước có khả năng tự chủ được về công nghệ mà còn đáp ứng được đòi hỏi về giảm tỷ lệ vi phạm bản quyền phần mềm, tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ trong một sân chơi mới của WTO mà Việt Nam là một thành viên đầy đủ.


Lê Công Sơn

PS: Bài đăng trên tạp chí Tin học và Đời sống số tháng 12/2006

Phần mềm nguồn mở với Chính phủ điện tử

XÂY DỰNG CÁC ỨNG DỤNG, DỊCH VỤ CHO CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ (CPĐT) BẰNG CÁC PHẦN MỀM NGUỒN MỞ (PMNM)

1. Xây dựng phần mềm theo cách truyền thống

Từ trước tới nay, khi xây dựng một phần mềm, ngoài việc chúng ta phải tuân thủ các bước khảo sát, phân tích, thiết kế, lập trình, kiểm thử, triển khai... nhằm đáp ứng các yêu cầu chức năng nghiệp vụ của cơ quan, tổ chức người sử dụng thì chúng ta không mấy khi phải chú tâm tới các thành phần khác cùng nằm trong hệ thống thông tin.

Một ví dụ dễ thấy nhất là khi làm theo cách này, trong mọi ứng dụng phần mềm đều phải có module quản trị người sử dụng với khả năng tạo mới, cập nhật, sửa, xóa các thông tin liên quan tới người (nhóm người) sử dụng. Đối với người sử dụng thì để có thể sử dụng được ứng dụng phần mềm, họ sẽ phải đăng nhập vào chương trình thông qua một tài khoản sử dụng (account) mà thông thường được xác định bởi một cặp giá trị về tên sử dụng (user name) và mật khẩu (password).

Kết quả là, với một người sử dụng, khi số lượng các ứng dụng phần mềm tăng lên thì số lượng các tài khoản cũng tăng lên tương ứng. Chỉ có điều các giá trị về tên sử dụng và mật khẩu đối với chính người sử dụng này nhưng trong các ứng dụng khác nhau lại có thể sẽ rất khác nhau. Điều này là khó có thể chấp nhận được.

Câu hỏi đặt ra là: khi xây dựng các ứng dụng và dịch vụ phần mềm cho Chính phủ điện tử (CPĐT), chúng ta phải chú tâm tới các thành phần khác nào của hệ thống? Kiến trúc của các phần mềm tham chiếu đó ra sao?

2. Kiến trúc phần mềm tham chiếu với các thành phần nền tảng cơ bản khi xây dựng các ứng dụng và dịch vụ phần mềm cho CPĐT

Hình 1 cho ta thấy kiến trúc phần mềm tham chiếu với các thành phần nền tảng cơ bản khi xây dựng các ứng dụng và dịch vụ phần mềm cho CPĐT 1.

Các thành phần nền tảng cơ bản mà mỗi một ứng dụng và dịch vụ phần mềm cho CPĐT khi xây dựng phải được tính tới, phải được tích hợp bao gồm:

2.1 Thành phần nền tảng cơ bản “Dịch vụ thư mục”.

Thành phần này thường sử dụng LDAP (Lightweight Directory Access Protocol) đối với các hệ thống không dựa trên hệ điều hành Windows hoặc AD (Active Directory) đối với các hệ thống dựa trên hệ điều hành Windows để quản lý các thông tin về người sử dụng và các thông tin liên quan khác. Thành phần này chính là nền tảng để xây dựng một hệ thống đăng nhập duy nhất (Single Sign On) đối với tất cả các ứng dụng và dịch vụ tồn tại trong hệ thống thông tin.

2.2 Thành phần nền tảng cơ bản “Cổng điện tử” (Portal).

Thành phần này sử dụng để làm môi trường cho việc tích hợp các qui trình nghiệp vụ, với người sử dụng và đặc biệt là với các thông tin từ các nguồn thông tin khác nhau, các định dạng dạng thông khác nhau với các công nghệ xây dựng khác nhau. Ví dụ để tích hợp các thông tin phi cấu trúc từ các trang thông tin điện tử (website), từ các ứng dụng và dịch vụ phần mềm được xây dựng trên bất cứ nền tảng nào – bất kể là Windows hay không Windows, nguồn mở hay nguồn đóng, sử dụng bất cứ hệ quản trị cơ sở dữ liệu nào – bất kể là MS SQL Server, Oracle, DB2, Informix, Sybase, MySQL, PostgreSQL ..., bằng bất cứ ngôn ngữ lập trình nào – bất kể là Java, Visual Basic, Perl, PHP...

Thành phần này chính là nền tảng để người sử dụng có thể truy cập các thông tin, dịch vụ của các cơ quan khác nhau thông qua một địa chỉ duy nhất trên Internet.

2.3 Thành phần nền tảng cơ bản “Hệ thống quản lý nội dung” CMS (Content Management System).

Thành phần này có nhiệm vụ chính là cung cấp các thông tin đã được tiêu chuẩn hóa từ các ứng dụng, dịch vụ phần mềm lên thành phần nền tảng “Cổng điện tử” thông qua bộ công cụ quản lý các bước xử lý thông tin từ việc tìm kiếm, thu thập, xem, kiểmduyệt, xuất bản thông tin để mọi người có thể sử dụng được trên Internet.

2.4 Thành phần nền tảng cơ bản “An ninh dữ liệu” (Data security)

Có thể có nhiều cách khác nhau để đảm bảo an ninh dữ liệu, nhưng thông thường thì người ta sử dụng hạ tầng cơ sở khóa công khai PKI (Public key Infrastructure) và thẻ thông minh (Smart card) để xác thực người sử dụng và mã hóa – giải mã đối với nội dung thông tin được truyền đi trên Internet. Điều này là hết sức quan trọng trên Internet để trả lời cho 2 câu hỏi: Ai là ai thực sự trên mạng và liệu thông tin ta truyền qua mạng từ máy tính này tới máy tính khác có còn giữ được tính toàn vẹn dữ liệu hay không? (có bị ai đó can thiệp và sửa đổi trên đường truyền hay không?).

2.5 Thành phần nền tảng cơ bản “Mẫu biểu điện tử” (Form server)

Thành phần này cung cấp cho người sử dụng trên Internet các mẫu biểu hành chính của các cơ quan hành chính các cấp. Thông thường việc triển khai thành phần này được chia làm 2 giai đoạn. Giai đoạn đầu cung cấp các mẫu biểu điện tử dạng có thể in ra được để mọi người điền thông tin vào đó như đối với một mẫu biểu thông thường bằng giấy rồi được đưa vào qui trình xử lý như các phương pháp truyền thống tại các cơ quan hành chính. Trong giai đoạn tiếp sau, các mẫu biểu này sẽ được thiết kế thành các mẫu biểu điện tử để mọi người có thể điền trực tiếp các thông tin cần thiết một cách trực tuyến trên Internet rồi các thông tin đó được lưu giữ trong các cơ sở dữ liệu và được tiếp tục xử lý trong hệ thống mạng của các cơ quan hành chính.

2.6 Thành phần nền tảng cơ bản “Thanh toán điện tử” (e-payment)

Thành phần này thường kết hợp với thành phần “An ninh dữ liệu” làm cơ sở để tạo nên hệ thống thanh toán trực tuyến trên Internet một cách an toàn thông qua các cổng thanh toán (Payment gateway) liên ngân hàng của một quốc gia hoặc liên quốc gia.

Cả 6 thành phần nền tảng cơ bản trên cùng với các ứng dụng và dịch vụ phần mềm dùng chung được triển khai trên nền tảng hệ thống mạng diện rộng WAN (Wide Area Network) của Chính phủ và trên Internet nhằm cung cấp các thông tin, ứng dụng và dịch vụ cho người dân, doanh nghiệp và các cơ quan hành chính các cấp của Chính phủ.

Cần lưu ý rằng thành phần nền tảng cơ bản “Cổng điện tử” và thành phần nền tảng cơ bản “Hệ thống quản lý nội dung” là 2 thành phần nền tảng cơ bản khác nhau, riêng biệt nhau với những chức năng hoàn toàn khác nhau chứ không phải là dạng “2 trong 1” như chúng ta vẫn thường thấy đối với nhiều Cổng điện tử tại Việt Nam hiện nay.


Photo Sharing and Video Hosting at Photobucket

Hình 1. Kiến trúc phần mềm tham chiếu với các thành phần nền tảng cơ bản khi xây dựng các ứng dụng và dịch vụ phần mềm cho Chính phủ

3. Tích hợp các ứng dụng và dịch vụ với các thành phần nền tảng cơ bản

Với kiến trúc được trình bày trên Hình 1 thì mọi ứng dụng và dịch vụ được xây dựng cần phải tích hợp được với cả 6 thành phần nền tảng cơ bản được nêu ở trên. Đây chính là khác biệt rất quan trọng so với cách xây dựng các ứng dụng phần mềm theo cách truyền thống được nêu ở bên trên.

Việc tích hợp này được thực hiện không như những gì chúng ta thường thấy hiện nay là chỉ thông qua các đường liên kết (link) tới các ứng dụng và dịch vụ khác nhau được xây dựng trên công nghệ web (web – based application) thông qua tầng trình diễn của các ứng dụng và dịch vụ đó, mà chúng được tích hợp với nhau chủ yếu thông qua tầng trung gian – tầng nghiệp vụ như được trình bày bằng các mũi tên 2 chiều trên Hình 1 bằng việc sử dụng các chuẩn mở như XML (Extensible Markup Language), RSS (Really Simple Syndication) hoặc các dịch vụ web (Web Service).

Cần lưu ý rằng các thành phần nền tảng cơ bản nêu trên phải được hiểu là những thành phần KHÔNG THỂ THIẾU trong mọi ứng dụng, dịch vụ được xây dựng cho CPĐT, hay nói một cách khác là nếu không có đủ các thành phần nền tảng cơ bản nêu trên thì KHÔNG THỂ CÓ CPĐT được. Điều này còn cho thấy tính cấp thiết tới mức nào trong việc phải xây dựng cho được các nền tảng cơ bản đó cho CPĐT của Việt Nam chúng ta, nhất là các thành phần nền tảng cơ bản “An ninh dữ liệu” và “Thanh toán điện tử”, bởi đơn giản là một khi không tồn tại các nền tảng cơ bản này đồng nghĩa với việc các phần mềm và ứng dụng được xây dựng sẽ không có cơ sở để tích hợp với chúng và một ngày nào đó trong tương lai chúng ta sẽ phải nâng cấp, hay như từ chuyên môn thường được dùng tới là CHUYỂN ĐỔI (migration) đối với tất cả các ứng dụng, dịch vụ đã được xây dựng trước đó để có được sự tích hợp như mong muốn phục vụ cho CPĐT.

Việc xây dựng nền tảng cơ bản “máy chủ mẫu biểu” xét về mặt kỹ thuật sẽ không phải là một khó khăn vì xét cho cùng nó tương đương với việc xây dựng một ứng dụng cơ sở dữ liệu quản lý các mẫu biểu của tất cả các thủ tục hành chính mà các cơ quan công quyền cung cấp cho người dân và doanh nghiệp, nhưng về mặt cải cách hành chính thì lại không phải dễ dàng gì vì phải đảm bảo sao cho hiệu lực pháp luật của từng mẫu biểu đó trong một qui trình nghiệp vụ cụ thể là như nhau ở mọi lúc, mọi nơi.

Ví dụ vắn tắt dưới đây về một dịch vụ phần mềm cho CPĐT có tích hợp với các thành phần nền tảng cơ bản nêu trên có thể được thực hiện theo một kịch bản như sau: Người sử dụng dùng các thông tin cơ bản nhất về chính mình được lưu trữ trong thành phần nền tảng cơ bản “Dịch vụ thư mục” để truy cập thành phần nền tảng cơ bản “Cổng điện tử”, rồi sau đó người sử dụng tìm tới thành phần nền tảng cơ bản “máy chủ mẫu biểu” để lấy ra một mẫu biểu điện tử cần thiết rồi điền các thông tin vào mẫu biểu điện tử đó. Các dữ liệu ngầm định có liên quan khác của người sử dụng được lưu trữ trong thành phần nền tảng cơ bản “Hệ thống quản lý nội dung” được đưa lên mẫu biểu điện tử khi người sử dụng điền các thông tin cần thiết khác lên mẫu biểu điện tử được chọn. Thành phần cơ bản an ninh dữ liệu được sử dụng để truyền một cách an toàn các dữ liệu cá nhân này, cho việc ký điện tử và hoàn tất mẫu biểu và cho việc truyền an toàn các dữ liệu của mẫu biểu điện tử này trên đường truyền và cũng để đảm bảo giao tiếp an toàn khi xác nhận việc nhận và công bố giá thành được gửi tới người sử dụng bằng thư điện tử. Thành phần cơ bản thanh toán điện tử được sử dụng để tạo một khoản ghi nợ trong hệ thống thanh toán do Chính phủ qui định. Người sử dụng sẽ thanh toán hóa đơn thông qua chuyển khoản ngân hàng. Việc sử dụng các ứng dụng và dịch vụ phần mềm khác cho CPĐT cũng tương tự như vậy.

Qua ví dụ trên, ta có thể lý giải được vì sao các ứng dụng và dịch vụ phần mềm được xây dựng cho CPĐT cần phải tích hợp với các thành phần khác của hệ thống, chứ không đơn giản như theo cách truyền thống chúng ta vẫn làm.

4. Xây dựng các ứng dụng, dịch vụ cho CPĐT bằng các PMNM

Liệu có thể xây dựng các ứng dụng, dịch vụ phần mềm cho CPĐT bằng các PMNM? Câu trả lời là “CÓ”. Dưới đây liệt kê một số PMNM có thể được sử dụng để xây dựng không chỉ các ứng dụng, dịch vụ phần mềm, mà còn để xây dựng các thành phần nền tảng cơ bản được trình bày ở phần trên.

4.1 PMNM để xây dựng các thành phần nền tảng cơ bản

TT

Tên dịch vụ

Phần mềm nguồn mở

1

Dịch vụ quản lý thư mục

OpenLDAP

2

Cổng điện tử

Apache Jetspeed Portal, uPortal, Exo Portal...

3

Hệ thống quản trị nội dung

OpenCms, Lenya, WebCMS2

4

CA và hạ tầng cơ sở khóa công khai

IdealPKI, OpenCA

5

Máy chủ mẫu biểu

PostgreSQL, MySQL

4.2 PMNM3 để xây dựng các dịch vụ hệ thống cho các trung tâm tích hợp dữ liệu

TT

Tên dịch vụ

Phần mềm nguồn mở

1

Hệ điều hành máy chủ

Red Hat

2

Dịch vụ quản lý tên miền DNS

Bind

3

Dịch vụ thư tín điện tử (Mail)

Postfix

4

Dịch vụ quản lý hộp thư (POP3/IMAP)

Cyrus

5

Dịch vụ Web Server

Apache

6

Dịch vụ Virtual Host

Apache

7

Dịch vụ truyền tệp (FTP)

ProFTP

8

Dịch vụ truy cập bằng quay số từ xa

Radius

9

Dịch vụ quản lý địa chỉ IP động DHCP

ISC DHCP

10

Dịch vụ chia sẻ ổ đĩa trên mạng NFS

Samba

11

Dịch vụ bảo mật tường lửa (firewall)

Shorewall

12

Dịch vụ kiểm soát, theo dõi truy cập trái phép

Snort

13

Dịch vụ chống thư rác

SpamAssasin

14

Dịch vụ sao lưu hệ thống

RSYNC

15

Dịch vụ phục hồi dữ liệu hệ thống

Tar

16

Dịch vụ uỷ quyền (Proxy)

Squid

17

Hệ quản trị cơ sở dữ liệu

PostgreSQL, MySQL

18

Dịch vụ thẩm định người dùng

SASLAUTHD

19

Dịch vụ quản trị từ xa có bảo mật

SSH

20

Dịch vụ Mail Offline

Fetchmail

21

Dịch vụ Mobile user

Squirrelmail

22

Dịch vụ chống virus

ClamAV

23

Dịch vụ theo dõi hoạt động của mạng

Nagios, MIDAS

24

Theo dõi hoạt động các dịch vụ mạng

Ntop

25

Dịch vụ theo dõi băng thông trên mạng

MTRG (Multi Traffic Router Graph)

26

Dịch vụ mạng riêng ảo VPN

OpenVPN, OpenSwan


5. Không chỉ là PMNM, mà còn là chuẩn mở

Các nghiên cứu4 đã chỉ ra rằng, việc xây dựng CPĐT bằng các PMNM và chuẩn mở5 đối với Chính phủ sẽ đem lại những mặt tích cực sau:

  • Giảm thiểu sự phụ thuộc vào các nhà cung cấp phần mềm nước ngoài.

  • Đấu tranh với tình trạng độc quyền trong thị trường phần mềm để tránh việc lạm dụng tình trạng độc tôn thị trường.

  • Nâng cao chất lượng các hệ thống thông tin chính phủ

  • Giảm chi phí phát triển và triển khai phần mềm (trong điều kiện tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ)

  • Trao đổi tốt hơn dữ liệu giữa các cơ quan Chính phủ với nhau, giữa Chính phủ với người dân và doanh nghiệp

Với PMNM chúng ta đã nói tới nhiều và chúng ta sẽ không nhắc lại ở đây, còn một chuẩn mở là một chuẩn đạt được các yêu cầu sau:

  • Giá thành sử dụng chuẩn thấp và không có bất cứ khó khăn nào khi tiếp cận nó.

  • Chuẩn đã được công bố.

  • Chuẩn được chấp nhận trên cơ sở một qui trình ra quyết định cũng mở (quyết định đồng thuận hoặc của đa số).

  • Quyền sở hữu trí tuệ đối với chuẩn này được trao cho một tổ chức phi lợi nhuận hoạt động với một chính sách truy cập hoàn toàn tự do.

  • Không có bất cứ hạn chế nào về việc tái sử dụng chuẩn.

Trong lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông, ta đặc biệt quan tâm tới “Các chuẩn mở vì lợi ích của việc tương hợp (interoperability) các hệ thống thông tin” vì tính tương hợp của hệ thống thông tin là cần thiết để tạo điều kiện cho việc hợp tác giữa các tổ chức chính phủ và điều phối các quá trình nghiệp vụ bên trong và giữa các tổ chức này. Việc nâng cao trao đổi dữ liệu giữa các ứng dụng cũng sẽ cải thiện tính tương hợp giữa các qui trình cũng như các bước qui trình hành chính trong các cơ quan Chính phủ.

6. Lời kết

Việc Việt Nam hội nhập WTO với tư cách là một thành viên đầy đủ trong nay mai có thể sẽ là một sức ép lớn nhưng cũng có thể là cơ hội tốt cho chúng ta từ bỏ thói quen sử dụng phần mềm “vi phạm bản quyền” để chuyển sang sử dụng các PMNM hay chí ít có thể làm đối trọng cho việc đàm phán về giá cả đối với các phần mềm thương mại cho một mục tiêu cuối cùng là xây dựng cho được CPĐT theo cách mà một đất nước Việt Nam đang phát triển và còn rất nghèo có thể chấp nhận được.

Trần Lê

1 Theo tài liệu SAGA (Standards and Architecture for e-Government Application) của Chính phủ CHLB Đức, phiên bản 2.0, tháng 12/2003

2 Là phần mềm mà công ty của tác giả bài viết này xây dựng để chạy được trên các PMNM như Red Hat, PostgreSQL, Apache...

3 Là các PMNM mà công ty của tác giả bài viết này sử dụng để xây dựng các dịch vụ cơ bản cho Trung tâm tích hợp dữ liệu tại một số tỉnh, bộ, ngành theo Đề án 112 Chính phủ.

4 Chương trình “Chuẩn mở và phần mềm nguồn mở” OSOSS (Open Standards and Open Source Software) của Chính phủ Hà Lan, 2004

5 Thông tin mục này trích từ tạp chí Tin học và Đời sống, số tháng 06/2006, bài: Chuẩn mở và phần mềm nguồn mở.


PS: Bài đăng trên tạp chí Tin học và Đời sống số tháng 09/2006